Xử phạt hành vi đe dọa tống tiền như thế nào?

Thứ ba - 09/04/2024 03:31
Hiện nay có rất nhiều trường hợp trong xã hội liên quan đến việc sử dụng hình ảnh, uy tín, nhân phẩm, v.v, của các cá nhân, tổ chức nhằm thực hiện hành vi đe dọa tống tiền. Các hình vi này được xem là vi phạm pháp luật và các đối tượng vi phạm sẽ bị pháp luật xử lý nghiêm minh.
Hình minh họa
Hình minh họa
I. Tống tiền là gì?
Tống tiền là hành vi đe dọa, dọa nạt, uy hiếp hoặc bằng bất kỳ một hình thức, thủ đoạn nào đó để tiết lộ thông tin nhạy cảm hoặc gây hại cho người khác nếu họ không đáp ứng việc cung cấp tiền hoặc tài sản cho người tống tiền.
Thủ đoạn thường dùng của người thực hiện hành vi tống tiền đó có thể là:
– Đe dọa gửi, đăng những video, clip có liên quan đến người bị đe dọa lên các trang mạng xã hội hoặc tới những đơn vị, cá nhân có ảnh hưởng tới chính người bị đe dọa (ví dụ gia đình, nơi làm việc của họ…);
– Đe dọa, uy hiếp sẽ sử dụng vũ lực (có thể là có vũ khí hoặc không có vũ khí) để tấn công người bị đe dọa gây đến phương hại đến sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm của chính người bị đe dọa nếu như không chuyển giao tiền hoặc tài sản khác cho người đe dọa;
– Đe dọa gửi những thông tin bí mật, các bí quyết kinh doanh hay các hồ sơ, tài liệu có liên quan đến người bị tống tiền đến các địa điểm nhằm gây bất lợi hoặc gây thiệt hại cho họ;
– Đe dọa, uy hiếp về tinh thần người khác nếu không sẽ thực hiện các việc gây thiệt hại về tài sản như là hủy hoại tài sản, hoặc tố giác các hành vi vi phạm pháp luật/các hành vi vi phạm đạo đức, loan tin về đời tư hoặc làm lộ thông tin về công việc…của người bị đe dọa.
Còn nhiều hình thức tống tiền khác, không những chiếm đoạt tiền của người khác mà còn có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm và uy tín của cá nhân/tổ chức bị tống tiền.
II. Đe dọa tống tiền phạm tội gì? Xử phạt như thế nào?
Đe dọa tống tiền là hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Hành vi này toàn hoàn toàn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 170 Bộ luật hình sự 2015 về tội cưỡng đoạt tài sản.
Điều 170. Tội cưỡng đoạt tài sản
1. Người nào đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong cá trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thau, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;
d) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
e) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Lợi dụng thiên tai, dịch bênh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
III. Tống tiền nhưng chưa nhận tiền có phải chịu trách nhiệm hình sự không?
Theo Khoản 1 Điều 2015 quy định tội cưỡng đoạt tài sản. hành vi này được hiểu là người nào đe dọa sẽ dùng vũ lực, hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản. Sẽ bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Theo đó, tội cưỡng đoạt tài sản là 01 tội có cấu thành hình thức. Có nghĩa: chỉ cần người nào thực hiện hành vi uy hiếp tinh thần của người khác với mục đích chiếm đoạt tài sản. Trường hợp không xét đến hậu quả, thì người đó cũng phạm vào tội cưỡng đoạt tài sản.
Như vậy, hành vi tống tiền nhưng chưa nhận tiền tiền vẫn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tội cưỡng đoạt tài sản.
 

Khuyến nghị:

1. Bài viết nêu trên được luật sư, chuyên gia của Luật Toàn Long thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến từ các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tuy nhiên, người đọc chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi các ý kiến đưa ra chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

3. Mọi yêu cầu giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Luật Toàn Long qua Tổng đài tư vấn pháp luật Tư vấn: 0936.521.533, E-mail: luattoanlong@gmail.com.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Thống kê
  • Đang truy cập14
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm13
  • Hôm nay5,030
  • Tháng hiện tại115,651
  • Tổng lượt truy cập1,679,617
logo                      logophapluatvanhoa                     luatsu           thanh lap doanh nghiep                     tu van dat dai                     nguoihanoilogo
190063.3232
Nhắn tin Facebook Zalo: 0934.682.133
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây