Người lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bắt, giữ người trái pháp luật bị xử phạt như thế nào?

Thứ tư - 22/05/2024 23:02
Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt, giữ người trái pháp luật là một trong những hành vi phạm tội nghiêm trọng, xâm phạm đến hoạt động bình thường của các cơ quan tiến hành tố tụng. Hành vi này đe dọa tính công bằng và quyền tự do của người bị giam, giữ. Vậy tội phạm này sẽ bị xử lý như thế nào theo quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015.
tải xuống (3)
tải xuống (3)
1. Thế nào là lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt, giữ, giam người trái pháp luật?
Người có chức vụ, quyền hạn được quy định tại khoản 2 Điều 352 Bộ luật Hình sự là những người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc một hình thức khác có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ.
Lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt giữ, giam người trái pháp luật là hành vi của những người lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để ra lệnh, quyết đinh; không ra lệnh, quyết định hay thực hiện hành vi bắt, giữ người không đúng quy định, trái pháp luật.
2. Các dấu hiệu pháp lý của tội phạm
Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật được quy định tại Điều 377 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Theo đó, tội phạm này có những dấu hiệu pháp lý sau đây:
Về chủ thể của tội phạm:
Đây là một chủ thể đặc biệt: Người lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật. Đây là những người có chức vụ quyền hạn, đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Mặt khách quan của tội phạm:
+ Không ra quyết định trả tự do: Khi không đủ căn cứ để khởi tố, truy tố hoặc hết thời hạn tạm giam, tạm giữ mà không ta quyết định trả tự do cho người bị tạm giam, tạm giữ.
+ Quyết định bắt, giữ, giam người không có căn cứ theo quy định của luật: Ra quyết định khi không có đầy đủ căn cứ.
+ Không chấp hành quyết định trả tự do: Khi có quyết định trả tự do cho người được trả tự do nhưng người có thẩm quyền lại không chấp hành quyết định.
+ Thực hiện việc bắt, giữ, giam người không có lệnh, quyết định theo quy định của luật hoặc tuy có lệnh, quy định nhưng chưa có hiệu lực thi hành.
+ Không ra lệnh, quyết định gia hạn tạm giữ, tạm giam hoặc thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giữ, tạm giam khi hết thời hạn tạm giữ, tạm giam dẫn đến người bị tạm giữ, tạm giam bị giam, giữ quá hạn.
Mặt chủ quan của tội phạm: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi vi phạm pháp luật: Mặc dù biết hậu quả xảy ra, họ vẫn cố tình thực hiện hành vi đó. Đây là tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp.
3. Khung hình phạt của tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt, giữ người trái pháp luật
Căn cứ Điều 377 Bộ luật Hình sự 2015 thì Tội dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật có 03 khung hình phạt chính và 01 khung hình phạt bổ sung. Người phạm tội này có thể phải chịu khung hình phạt tù thấp nhất từ 06 tháng đến 03 năm hoặc mức tối đa lên đến 12 năm tù. Ngoài ra, người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
4. Tình huống thực tế
Trưởng cơ quan điều tra A đã bắt giữ người A với lý do nghi ngờ liên quan đến một vụ án. Tuy nhiên, sau khi điều tra, không có đủ căn cứ để tiếp tục giữ người A. Thay vì trả tự do cho người A, Trưởng cơ quan điều tra A quyết định không ra quyết định trả tự do và tiếp tục giữ người A trái pháp luật.
Phân tích dấu hiệu pháp lý:
+ Chủ thể: Trưởng cơ quan điều tra A là người có chức vụ và quyền hạn trong việc ra quyết định trả tự do cho người bị giam.
+ Hành vi vi phạm: Không ra quyết định trả tự do cho người A theo quy định của pháp luật.
+ Khách thể: Hành vi này xâm phạm trực tiếp đến quyền tự do của người A.
Khung hình phạt: Theo Điều 377 Bộ luật Hình sự, người lợi dụng chức vụ, quyền hạn không ra quyết định trả tự do cho người được trả tự do theo quy định của pháp luật có thể bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm. Nếu hậu quả nghiêm trọng, hình phạt có thể tăng lên từ 2 đến 7 năm
 

Khuyến nghị:

1. Bài viết nêu trên được luật sư, chuyên gia của Luật Toàn Long thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến từ các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tuy nhiên, người đọc chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi các ý kiến đưa ra chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

3. Mọi yêu cầu giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Luật Toàn Long qua Tổng đài tư vấn pháp luật Tư vấn: 0936.521.533, E-mail: luattoanlong@gmail.com.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Thống kê
  • Đang truy cập14
  • Máy chủ tìm kiếm2
  • Khách viếng thăm12
  • Hôm nay2,658
  • Tháng hiện tại121,044
  • Tổng lượt truy cập1,854,886
logo                      logophapluatvanhoa                     luatsu           thanh lap doanh nghiep                     tu van dat dai                     nguoihanoilogo
190063.3232
Nhắn tin Facebook Zalo: 0934.682.133
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây