Quy định về cấp dưỡng nuôi con trong pháp luật HNGĐ Việt Nam

Chủ nhật - 27/08/2023 22:22
Luật Toàn Long hướng dẫn chi tiết Quy định về cấp dưỡng nuôi con trong pháp luật HNGĐ Việt Nam. Mời quý bạn đọc theo dõi qua bài viết dưới đây
Hình minh họa. Nguồn internet
Hình minh họa. Nguồn internet
Luật HNGĐ năm 2014 định nghĩa: “Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật này”
Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này. Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác
Trải qua nhiều thời kỳ khác nhau, trong 4 đạo luật về HNGĐ của nước ta từ 1959 đến nay đều có quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn nhưng khác nhau ở cách sử dụng các thuật ngữ để diễn giải về nghĩa vụ này.
Luật HNGD năm 1959 quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con tại các Điều 31, 32 và Điều 33, Chương 5 quy định về ly hôn. Luật không dùng thuật ngữ “cấp dưỡng” mà dùng thuật ngữ “phí tổn về việc nuôi nấng và giáo dục con”. Theo đó, vợ chồng đã ly hôn vẫn có mọi nghĩa vụ và quyền đối với con chung. Vợ chồng đã ly hôn phải cùng chịu phí tổn về việc nuôi nấng và giáo dục con, mỗi người tuỳ theo khả năng của mình. Vì lợi ích của con cái, khi cần thiết, có thể thay đổi việc việc góp phần vào phí tổn nuôi nấng, giáo dục con cái. Việc việc góp phần vào phí tổn nuôi nấng và giáo dục con cái sẽ do hai bên thoả thuận giải quyết. Trường hợp hai bên không thoả thuận với nhau được hoặc trong sự thoả thuận xét thấy có chỗ không hợp lý, thì Toà án nhân dân sẽ quyết định.
Luật HNGD năm 1986 quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng tại Điều 45 trong Chương 7 quy định về ly hôn. Trong quy định cũng không sử dụng thuật ngữ “cấp dưỡng” mà sử dụng thuật ngữ “phí tổn nuôi dưỡng, giáo dục con”. Luật quy định, sau khi ly hôn “người không nuôi giữ con có nghĩa vụ và quyền thăm nom, chăm sóc con và phải đóng góp phí tổn nuôi dưỡng, giáo dục con. Nếu trì hoãn hoặc lẩn tránh việc đóng góp, thì Toà án nhân dân quyết định khấu trừ vào thu nhập hoặc buộc phải nộp những khoản phí tổn đó. Vì lợi ích của con, khi cần thiết, có thể thay đổi việc nuôi giữ con hoặc mức đóng góp phí tổn nuôi dưỡng, giáo dục con”.
Luật HNGĐ năm 2000 quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con sau ly hôn tại Điều 56 Chương 6 quy định về cấp dưỡng và Điều 92 Chương 10 quy định về ly hôn. Luật quy định “Khi ly hôn, cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi con chưa thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Mức cấp dưỡng cho con do cha, mẹ thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết”.
Luật HNGĐ năm 2014 quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn tại Điều 82 và được cụ thể tại Điều 107, Điều 110, từ Điều 116 – 118, Chương VII về cấp dưỡng. Theo đó, sau khi ly hôn, cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Trong trường hợp người có nghĩa vụ nuôi dưỡng trốn tránh nghĩa vụ thì theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức được Luật quy định, Tòa án buộc người đó phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định.
Như vậy, trong pháp luật về HNGĐ quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cha, mẹ và con sau khi ly hôn. Đồng thời nếu người có nghĩa vụ cấp dưỡng để thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng con trốn tránh thực hiện nghĩa vụ thì những người được Luật HNGĐ quy định có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền buộc người vi phạm thực hiện nghĩa vụ theo quy trình tố tụng dân sự.
Trên đây là nội dung tư vấn của Luật Toàn Long, trường hợp quý khách gặp khó khăn trong việc tìm hiểu pháp luật Việt Nam và không nắm rõ các thủ tục cần thực hiện. Do đó, quý khách có thể ủy quyền cho Luật Toàn Long để thay mặt thực hiện các thủ tục một cách nhanh nhất và đạt hiệu quả. Luật Toàn Long với đội ngũ nhân viên có chuyên môn cao, tận tâm và tạo ra chất lượng phục vụ tốt nhất nhằm hạn chế tối đa chi phí, thời gian của Qúy khách hàng.

Khuyến nghị:

1. Bài viết nêu trên được luật sư, chuyên gia của Luật Toàn Long thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến từ các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tuy nhiên, người đọc chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi các ý kiến đưa ra chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

3. Mọi yêu cầu giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Luật Toàn Long qua Tổng đài tư vấn pháp luật Tư vấn: 0936.521.533, E-mail: luattoanlong@gmail.com.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Thống kê
  • Đang truy cập28
  • Máy chủ tìm kiếm5
  • Khách viếng thăm23
  • Hôm nay5,173
  • Tháng hiện tại115,794
  • Tổng lượt truy cập1,679,760
logo                      logophapluatvanhoa                     luatsu           thanh lap doanh nghiep                     tu van dat dai                     nguoihanoilogo
190063.3232
Nhắn tin Facebook Zalo: 0934.682.133
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây